TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

XÃ KON PLÔNG

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TỪ NGHỊ QUYẾT CHI BỘ ĐẾN NHỮNG LỚP HỌC ĐẦY TIẾNG TRẺ

Ở một ngôi trường vùng đặc biệt khó khăn phía tây Quảng Ngãi – Trường THCS Pờ Ê (nay là phân hiệu trường PTDTBT THCS Kon Plông), chuyện học sinh đến lớp tưởng như rất bình thường lại là hành trình cần sự vào cuộc của cả chi bộ, nhà trường, giáo viên, gia đình và cộng đồng. Từ những nghị quyết được bàn bạc trong phòng họp, từng đảng viên được phân công phần việc cụ thể, đi đến từng thôn, từng nhà, kiên trì vận động học sinh trở lại trường. Những lớp học hôm nay đầy hơn tiếng trẻ cũng là minh chứng sinh động cho một điều giản dị: Nghị quyết của Đảng chỉ thật sự có sức sống khi đi vào những việc người dân nhìn thấy, cảm nhận được và được thụ hưởng.

Những khoảng lặng sau tiếng trống trường

Những ngày đầu năm học ở vùng cao bao giờ cũng mang theo nhiều cảm xúc. Sân trường rộn tiếng nói cười, bảng lớp được lau sạch, sách vở mới nằm ngay ngắn trên bàn. Tiếng trống trường vang lên giữa núi rừng báo hiệu một năm học mới bắt đầu. Nhưng sau niềm vui ấy vẫn còn những chiếc bàn trống.

Ngôi trường có 144 học sinh, trong đó 141 em là học sinh dân tộc thiểu số. Học sinh sống rải rác ở nhiều thôn, có thôn cách trường tới 10 km. Đáng chú ý, các em không thuộc diện được hưởng chế độ bán trú, vì vậy việc đến trường, duy trì học tập đều đặn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện gia đình và sự cố gắng của chính học sinh. Ngay từ đầu năm học, qua rà soát, nhà trường xác định có 08 học sinh chưa ra lớp. Bên cạnh đó là 04 trường hợp có nguy cơ bỏ học cần được đặc biệt quan tâm. Những con số ấy nếu đặt trong một bảng thống kê có thể chỉ chiếm vài dòng. Nhưng với một trường học vùng đặc biệt khó khăn, phía sau mỗi con số là một hoàn cảnh: Có em nhà cách trường hơn 10 cây số (km), có em phải phụ giúp gia đình, có gia đình chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của việc học lâu dài, có em sau thời gian nghỉ hè chưa thật sự sẵn sàng trở lại lớp. Có những phụ huynh thương con nhưng cái khó của cuộc sống trước mắt đôi khi khiến việc học bị đặt sau những nhu cầu bức thiết khác. Có em hoàn cảnh gia đình thực sự quá khó khăn: Bố mẹ li hôn, bố đi lấy vợ khác, mẹ đi lấy chồng khác, để các em bơ vơ, sống nhờ nay nhà này, mai nhà kia. Với nhà trường, vấn đề đặt ra không chỉ là: “Làm thế nào để đưa đủ 08 học sinh trở lại trường?” mà câu hỏi lớn hơn là: Làm thế nào để các em đến lớp rồi tiếp tục ở lại với lớp học? Và xa hơn nữa: Làm thế nào để mỗi gia đình thực sự coi việc học của con là con đường bền vững để thay đổi cuộc sống?

Đó là lúc câu chuyện duy trì sĩ số không còn là việc riêng của giáo viên chủ nhiệm hay Ban giám hiệu. Nó trở thành một nhiệm vụ của chi bộ.

Một nghị quyết không dừng lại trong phòng họp

Trong công tác xây dựng Đảng ở trường học, những nghị quyết lớn chỉ thật sự có giá trị khi được cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn đơn vị. Ở một trường vùng khó như Trường THCS Pờ Ê (nay là phân hiệu trường PTDTBT THCS Kon Plông), nếu nghị quyết chỉ nói những điều chung chung mà không chạm tới những vấn đề cấp thiết nhất của học sinh thì rất khó tạo nên chuyển biến. Vì thế, từ thực trạng đầu năm học, chi bộ nhà trường xác định việc huy động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số và hạn chế nguy cơ bỏ học là một trong những nhiệm vụ cần tập trung lãnh đạo.

Từ nghị quyết, công việc được cụ thể hóa. Không phải “nhà trường vận động học sinh”, mà phải xác định rõ ai phụ trách trường hợp nào, địa bàn nào, hoàn cảnh nào. Không chỉ thống kê học sinh vắng học, mà phải tìm được nguyên nhân phía sau sự vắng mặt ấy. Không chỉ vận động các em ra lớp một lần, mà phải tiếp tục theo dõi để tránh tình trạng hôm nay đến trường, ít ngày sau lại nghỉ.

Mỗi đảng viên, giáo viên được giao trách nhiệm đều hiểu rằng nhiệm vụ của mình không kết thúc ở cổng trường. Có những khi, muốn đưa học sinh trở lại lớp, người thầy phải đi thêm vài cây số đường núi. Có những trường hợp phải đến gia đình nhiều lần. Có khi giáo viên đi một mình chưa đủ, phải phối hợp với cán bộ thôn, bí thư chi bộ thôn hoặc những người có uy tín trong cộng đồng để cùng giải thích, vận động.

              Từ đó hình thành một cách làm rất thực tế: Rà soát đúng – tìm nguyên nhân thật – phân công rõ – phối hợp chặt – theo dõi đến cùng.

Nếu chỉ tính bằng số trang, một nghị quyết có thể rất ngắn. Nhưng nếu tính bằng những bước chân của đảng viên, khoảng cách từ phòng họp chi bộ đến từng mái nhà trong thôn có khi dài tới hàng chục cây số. Và ở nơi ấy, nghị quyết được đo không phải bằng những lời nói hay, mà bằng việc những chiếc bàn trống có học sinh trở lại ngồi hay không.

Khi đảng viên nhận phần việc khó

Ở trường THCS Pờ Ê (nay là phân hiệu trường PTDTBT THCS Kon Plông), sự nêu gương đôi khi bắt đầu từ những việc rất bình dị như Một cuộc điện thoại cho phụ huynh học sinh, một buổi chiều vào thôn, một cuộc trò chuyện với học sinh và phụ huynh học sinh hay thêm một lần quay lại gia đình sau khi lần vận động trước chưa có kết quả.

 

Việc vận động học sinh ra lớp không thể chỉ bằng việc làm trong giờ hành chính mà phải bằng những buổi sáng sớm tinh mơ hay chiều tối muộn của người giáo viên.  Họ phải hiểu được vì sao học sinh của mình nghỉ học. Nếu do đường xa, phải cùng gia đình tìm cách hỗ trợ việc đi lại. Nếu do hoàn cảnh khó khăn, phải tìm cách huy động các nguồn lực phù hợp. Nếu do tâm lý chán học, giáo viên phải giúp em tìm lại cảm giác được đón nhận trong lớp. Nếu phụ huynh còn băn khoăn, giáo viên phải giải thích bằng sự kiên trì và chân thành. Bỡi vậy, vận động học sinh ở vùng khó trước hết là công tác dân vận.

Không phải dân vận bằng diễn văn mà là dân vận bằng những lần đến nhà. Bằng việc ngồi xuống bên bếp lửa cùng gia đình. Bằng cách lắng nghe trước khi thuyết phục. Bằng sự tôn trọng phong tục, hoàn cảnh và suy nghĩ của bà con. Với 08 em chưa ra lớp đầu năm, không thể áp dụng một cách vận động cho tất cả. Mỗi em là một câu chuyện riêng. Và với0 4 trường hợp có nguy cơ bỏ học, nhiệm vụ còn khó hơn. Bởi vận động một học sinh quay lại trường có thể cần vài ngày, nhưng để giữ em tiếp tục học có khi phải cần cả một năm học, thậm chí nhiều năm. Đây chính là nơi vai trò của người đảng viên được thể hiện rõ nhất. Nêu gương không nhất thiết phải là những việc lớn. Ở trường học nơi vùng cao này, nêu gương có thể là người sẵn sàng nhận học sinh khó nhất. Là người không bỏ cuộc sau lần vận động đầu tiên. Là người khi biết học sinh nghỉ học không vội phê bình, mà tìm đến xem gia đình đang gặp chuyện gì. Chính những việc nhỏ như vậy tạo nên uy tín của đảng viên trong tập thể và trong nhân dân.

Mười cây số không chỉ là khoảng cách địa lý

Thôn xa nhất cách trường khoảng hơn 10 km. Ở thành phố hay vùng đồng bằng thuận lợi, 10 km có thể chỉ là một quãng đường ngắn. Nhưng với địa bàn vùng cao, 10 km mang một ý nghĩa khác. Đó có thể là đường dốc; là những ngày mưa khiến việc đi lại khó khăn hơn; là quãng đường một học sinh phải vượt qua để có mặt đúng giờ. Và cũng là khoảng cách người giáo viên phải đi khi cần gặp gia đình học sinh. Chính những điều rất thực ấy giúp người làm công tác giáo dục hiểu rằng không thể đánh giá sự chuyên cần của học sinh vùng khó chỉ bằng số lần có mặt hay vắng mặt.

Phải nhìn phía sau con số, khi một em đi học đều đặn dù nhà xa trường, đó đã là một nỗ lực. Khi một gia đình quyết định tiếp tục cho con đi học trong điều kiện còn nhiều khó khăn, đó cũng là một sự thay đổi đáng quý. Và khi người giáo viên nhiều lần vượt quãng đường ấy để đến nhà vận động học sinh, đó không còn đơn thuần là trách nhiệm nghề nghiệp, là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm đảng viên trước nhiệm vụ được giao mà còn là tình yêu thương của người thầy đối với học trò của mình.

Khoảng cách 10 km vì thế không chỉ là khoảng cách địa lý. Đó còn là khoảng cách giữa nguy cơ bỏ học và cơ hội tiếp tục đến trường. Khoảng cách ấy có thể được rút ngắn bằng chính sự vào cuộc của Chi bộ, nhà trường và cộng đồng.

Dân vận bắt đầu từ sự thấu hiểu

Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác dân vận trong giáo dục có đặc thù riêng. Không thể chỉ thông báo rằng học sinh phải đến trường. Càng không thể cho rằng một phụ huynh chưa cho con ra lớp đồng nghĩa với việc họ không quan tâm đến con. Nhiều khi đằng sau quyết định ấy là những khó khăn mà người ngoài chưa hiểu hết. Vì vậy, điều đầu tiên giáo viên cần làm không phải là nói, mà là nghe. Nghe phụ huynh nói về khó khăn. Nghe học sinh nói về điều khiến các em ngại trở lại trường. Từ sự thấu hiểu mới có giải pháp phù hợp.

Có thể khái quát cách làm ấy bằng “5 cùng”: Cùng rà soát – cùng đến nhà – cùng tháo gỡ – cùng theo dõi – cùng chịu trách nhiệm.

Chi bộ lãnh đạo - Nhà trường tổ chức thực hiện - Đảng viên, giáo viên trực tiếp phụ trách - Cán bộ thôn và người có uy tín phối hợp - Gia đình đồng hành - Học sinh là trung tâm. Nếu thiếu một mắt xích, việc vận động rất dễ chỉ đạt kết quả tạm thời. Điều đáng quý hơn cả là thông qua những lần đến thôn, mối quan hệ giữa giáo viên với phụ huynh ngày càng gần hơn. Khi phụ huynh tin giáo viên, lời vận động mới có sức nặng. Khi người dân thấy đảng viên không chỉ đến vào dịp họp mà thực sự có mặt lúc gia đình gặp khó khăn, uy tín của tổ chức Đảng cũng từ đó được bồi đắp.

Công tác xây dựng Đảng đôi khi được nhìn qua những khái niệm khá lớn như nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên; đổi mới công tác dân vận. Nhưng ở một ngôi trường vùng cao, những khái niệm ấy hiện diện rất cụ thể. Năng lực lãnh đạo thể hiện ở việc Chi bộ nhìn đúng vấn đề cần giải quyết. Sức chiến đấu thể hiện ở chỗ đã giao nhiệm vụ thì theo đến cùng, không thấy khó mà bỏ. Nêu gương là khi đảng viên nhận việc khó trước. Dân vận là khi người đảng viên biết đi đến nơi người dân đang cần mình. Từ đưa học sinh trở lại lớp đến giữ học sinh ở lại. Nếu mục tiêu chỉ là huy động đủ học sinh đầu năm, công việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Nhưng giáo dục không thể dừng ở chuyện điểm danh. Với 4 trường hợp có nguy cơ bỏ học, nhà trường phải xác định rằng vận động ra lớp mới là bước đầu. Điều quan trọng hơn là tạo cho học sinh cảm giác: Trường học là nơi em muốn đến.

Muốn vậy, giáo viên phải tiếp tục quan tâm đến học lực, tâm lý và các mối quan hệ của từng em. Một học sinh học yếu kéo dài rất dễ chán. Một học sinh cảm thấy lạc lõng rất dễ nghỉ. Một em thường xuyên bị phê bình nhưng ít được động viên cũng có thể mất dần động lực. Do đó, duy trì sĩ số phải đi cùng nâng cao chất lượng giáo dục. Người giáo viên không chỉ “giữ chân” học sinh bằng những cuộc vận động, mà phải giữ các em bằng một lớp học có tình thương, một môi trường không khiến các em cảm thấy bị bỏ lại phía sau. Với trường có 141/144 học sinh là người dân tộc thiểu số, yêu cầu ấy càng quan trọng.

           Sự khác biệt về điều kiện sống, khả năng tiếp cận học liệu hay vốn tiếng Việt của một số học sinh đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt hơn trong cách dạy. Khi học sinh hiểu bài hơn, các em sẽ tự tin hơn. Khi được ghi nhận, các em có thêm động lực. Khi giáo viên biết tên hoàn cảnh phía sau từng gương mặt, khoảng cách thầy trò cũng gần hơn. Đó chính là “lớp học đầy tiếng trẻ” mà Chi bộ và nhà trường hướng tới. Không chỉ đầy về số lượng mà phải đầy cả tiếng đọc bài, tiếng trao đổi, tiếng cười và những ước mơ của trẻ em vùng cao.

Nghị quyết phải được kiểm chứng bằng kết quả

Một chủ trương đúng không chỉ cần được ban hành mà còn phải được kiểm tra trong thực tiễn. Vì vậy, một điểm quan trọng trong cách lãnh đạo của Chi bộ là không dừng lại sau khi phân công. Kết quả huy động học sinh phải được theo dõi. Học sinh nào đã trở lại lớp? Em nào vẫn đi học không đều? Nguyên nhân nào chưa giải quyết được? Trường hợp nào cần sự hỗ trợ của địa phương? Giải pháp nào hiệu quả, giải pháp nào phải điều chỉnh? Những câu hỏi ấy cần trở lại trong sinh hoạt chi bộ và các cuộc họp của nhà trường. Khi đó, sinh hoạt Đảng không tách rời nhiệm vụ chuyên môn. Và nghị quyết không phải một văn bản chỉ được nhắc đến ở đầu năm mà trở thành một chu trình: Phát hiện vấn đề – ban hành chủ trương – phân công thực hiện – kiểm tra – đánh giá – tiếp tục điều chỉnh.

Đó cũng là cách nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ bằng chính những vấn đề đang diễn ra hằng ngày ở đơn vị.

Khi lớp học đầy hơn tiếng trẻ

Đằng sau những con số: 144 học sinh trong đó có 141 em là học sinh dân tộc thiểu số; 08 em học sinh đầu năm chưa ra lớp; 04 trường hợp có nguy cơ bỏ học; thôn xa trường nhất hơn 10 km… là cả một câu chuyện về giáo dục vùng khó và cũng là câu chuyện về công tác xây dựng Đảng từ cơ sở.

           Từ thực tiễn ấy có thể rút ra một điều: Nơi nào chi bộ lựa chọn đúng vấn đề để lãnh đạo, nơi đó nghị quyết sẽ gần với cuộc sống hơn. Một tổ chức Đảng mạnh không chỉ thể hiện ở hồ sơ đầy đủ hay cuộc họp đúng quy định. Sức mạnh của tổ chức cơ sở đảng trước hết phải được người dân cảm nhận qua kết quả cụ thể. Ở trường học, kết quả ấy có thể rất giản dị: Một em học sinh trở lại lớp; một gia đình thay đổi nhận thức về việc học; một giáo viên nhận thêm trách nhiệm khó; một thôn cùng nhà trường vận động trẻ đến lớp và những chiếc bàn từng bỏ trống dần có người ngồi.

Từ câu chuyện một ngôi trường đến bài học xây dựng Đảng ở cơ sở

Từ thực tiễn vận động và duy trì sí số học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn gợi ra cho chúng ta nhiều bài học như:

Trước hết, Nghị quyết phải xuất phát từ thực tiễn. Nếu việc học sinh chưa ra lớp đang là vấn đề cấp thiết thì đó phải trở thành nội dung lãnh đạo cụ thể, chứ không thể chỉ nằm trong phần “nhiệm vụ chuyên môn”.

           Thứ hai, phân công phải gắn với trách nhiệm cá nhân. “Chi bộ phụ trách” hay “nhà trường vận động” là chưa đủ. Phải rõ đảng viên nào phụ trách địa bàn nào, học sinh nào, tiến độ ra sao.

           Thứ ba, đảng viên phải thực sự nêu gương ở những việc khó. Vai trò tiên phong không thể chỉ thể hiện trong phát biểu hay đăng ký thi đua. Nó phải thể hiện bằng việc sẵn sàng nhận nhiệm vụ và theo việc đến cùng.

           Thứ tư, công tác dân vận phải dựa trên sự tôn trọng và thấu hiểu. Muốn người dân đồng thuận, trước hết cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân và nói bằng điều người dân quan tâm.

           Cuối cùng, kết quả phải được kiểm tra bằng sự thay đổi thực tế. Đưa học sinh trở lại trường là kết quả trước mắt. Giữ các em học tập ổn định, tiến bộ và hoàn thành chương trình mới là kết quả bền vững.

Để không một trẻ nào bị bỏ lại phía sau

Sau những ngày kiên trì rà soát, tìm hiểu hoàn cảnh, đến từng gia đình vận động, 08 học sinh chưa ra lớp đầu năm của Trường THCS Pờ Ê (nay là phân hiệu trường PTDTBT THCS Kon Plông) đã trở lại trường. Trong đó, 07 em duy trì việc học khá ổn định; 01 em do hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn nên đôi lúc phải xin nghỉ, nhưng vẫn được nhà trường và giáo viên tiếp tục quan tâm, theo dõi, động viên để em không rời xa lớp học.

Điều đáng quý hơn là sau những lần gặp gỡ, trao đổi, nhận thức của một số phụ huynh cũng từng bước thay đổi. Từ chỗ còn nhiều khó khăn, băn khoăn trong việc cho con đến trường, nhiều gia đình đã chủ động quan tâm hơn đến việc học tập của con em mình. Không ít phụ huynh thường xuyên gọi điện hỏi thăm giáo viên về tình hình học tập, sinh hoạt của các em ở trường, thể hiện sự đồng hành cùng nhà trường trong việc giữ vững sĩ số và chăm lo tương lai của con trẻ.

Trong hành trình ấy, có những câu chuyện khiến người làm giáo dục càng thêm trân trọng nghị lực của học sinh vùng khó. Em Y Linh là một trong những trường hợp như vậy. Mồ côi cả cha lẫn mẹ, trong gia đình còn có em nhỏ cần được chăm sóc, nhưng em vẫn nỗ lực vượt qua hoàn cảnh để tiếp tục đến trường với mong muốn được học lên THPT, có kiến thức, có nghề nghiệp và sau này có thể chăm lo cho em của mình. Với em, việc học không chỉ là con đường thay đổi tương lai của bản thân mà còn là niềm hy vọng để gánh vác gia đình.

Những kết quả ấy cho thấy nghị quyết của chi bộ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng những việc làm gần dân, sát dân; khi mỗi đảng viên, giáo viên không chỉ thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường mà còn sẵn sàng đi đến từng thôn, từng mái nhà để lắng nghe, chia sẻ và đồng hành cùng học sinh.

Từ một vấn đề tưởng như chỉ là câu chuyện duy trì sĩ số đầu năm học, chi bộ nhà trường đã biến thành nhiệm vụ chính trị gắn với công tác dân vận, với trách nhiệm nêu gương của người đảng viên. Những chiếc bàn từng bỏ trống nay đã có học sinh trở lại ngồi, tiếng đọc bài, tiếng trò chuyện và những ước mơ của trẻ em vùng cao lại tiếp tục vang lên giữa núi rừng phía tây Quảng Ngãi. Đó chính là minh chứng sinh động nhất cho sức sống của một nghị quyết khi được bắt đầu từ thực tiễn và được thực hiện bằng tất cả trách nhiệm và tình yêu thương.

Thực hiện: Phan Thị Biên